Diendanphapluat - Tin tức pháp luật 24h, thời sự mới nhất, nóng nhất

Xuân Bính Ngọ theo vó kỵ binh

Xuân Bính Ngọ theo vó kỵ binh
Được đưa về từ thảo nguyên Mông Cổ khắc nghiệt, đàn ngựa phục vụ lực lượng Kỵ binh Cảnh sát cơ động (CSCĐ) không chỉ là phương tiện đặc thù trong nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự mà còn là kết quả của một quá trình chăm sóc, thuần dưỡng, nghiên cứu khoa học bài bản và đầy tâm huyết.

Giọt nước mắt khi xa quê của giống ngựa đầy linh tính

Tại các lễ diễu binh, diễu hành trang nghiêm trong các sự kiện lớn của đất nước vừa qua, hình ảnh những “chiến mã” sải bước vững vàng trong đội hình Kỵ binh CSCĐ luôn để lại ấn tượng mạnh mẽ. Nhưng phía sau dáng vóc uy nghiêm ấy là cả một câu chuyện dài, ít người biết về những giọt nước mắt của loài ngựa khi rời xa thảo nguyên, những đêm trắng trực chuồng và cả những tháng ngày “đi xin sữa” để giữ lại sự sống cho một chú ngựa non.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 cận kề, chúng tôi có dịp gặp Thượng tá Nguyễn Ngọc Hưng - Đoàn trưởng Đoàn CSCĐ Kỵ binh (thuộc Bộ Tư lệnh CSCĐ) để nghe ông kể lại hành trình tròn 6 năm (1/2020-1/2026) đưa giống ngựa Mông Cổ về Việt Nam, từ những ngày đầu đầy gian nan đến khi hình thành một lực lượng kỵ binh ngày càng chính quy, hiện đại hôm nay.

Nhắc đến điểm khởi đầu, Thượng tá Hưng đưa chúng tôi trở lại với những ngày đầu tiên trên đất Mông Cổ. “Thời điểm tháng Giêng, nhiệt độ cao nhất cũng chỉ khoảng -20°C, còn thấp nhất xuống tới -47°C. Anh em tiếp nhận ngựa trong điều kiện rét cắt da, có lúc đưa ngựa lên xe mà nhiệt độ ngoài trời là -50°C”. 

Ngựa Mông Cổ sinh ra và lớn lên trong môi trường khắc nghiệt. Từ tháng 10 đến tận tháng 5 năm sau, thảo nguyên phủ trắng tuyết. Chúng phải tự cào tuyết để tìm cỏ, ăn tuyết thay nước uống. Chính điều đó tạo nên sức chịu đựng và độ bền bỉ hiếm có và cũng là phẩm chất của tổ tiên chúng, một giống ngựa từng gắn liền với những đội kỵ binh huyền thoại một thời.

Ngựa là loài có linh tính mạnh, thời điểm chuyển về Việt Nam, nhiều chú ngựa đã rơi nước mắt, nhiều chú lại thể hiện rõ sự buồn bã khiến mọi người cảm nhận rõ. Nhưng thử thách lớn nhất không dừng ở đó mà là cú “sốc môi trường”. Bởi khi đưa ngựa về Việt Nam, nơi khí hậu nhiệt đới ẩm, nóng dễ phát sinh nhiều mầm bệnh, đặc biệt là các bệnh về hô hấp, tiêu hóa và ký sinh trùng máu. Đó là giai đoạn cả đơn vị gần như “ăn ngủ cùng ngựa”.

Ngựa được theo dõi sức khỏe hằng ngày, đặc biệt vào những thời điểm giao mùa khi sức đề kháng suy giảm mạnh nhất. “Chúng tôi chủ động tầm soát sức khỏe định kỳ, lấy máu xét nghiệm, theo dõi từng biểu hiện nhỏ. Giao mùa là thời điểm nhạy cảm nhất, chỉ cần lơ là là bệnh kế phát ngay”, Thượng tá Hưng .

Những ngày đầu, tài liệu về chăm sóc ngựa tại Việt Nam còn rất hạn chế. Cán bộ thú y phải vừa làm vừa học, “lật lại” kiến thức sách vở, học hỏi từ chuyên gia trong và ngoài nước. Đồng thời, những dân gian của đồng bào vùng cao ở Lào Cai, từ thảo dược đến kỹ thuật can thiệp sinh sản cũng được nghiên cứu, chắt lọc và áp dụng có chọn lọc.

Một kinh nghiệm đáng chú ý là việc can thiệp thời điểm phối giống để tăng tỉ lệ ngựa đực, yếu tố quan trọng trong xây dựng lực lượng kỵ binh. Nhờ đó, tỉ lệ ngựa đực sinh ra đạt mức cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Ngựa Mông Cổ vốn có tập tính sinh sản về đêm, thời điểm chúng cảm thấy an toàn nhất. Nhưng khi được chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, tập tính ấy dần thay đổi. “Giờ đây, ngựa có thể sinh vào bất kỳ thời điểm nào. Điều đó cho thấy chúng đã thực sự thích nghi và cảm nhận được sự an toàn”, Thượng tá Hưng nói.

Không chỉ làm theo sách vở, kinh nghiệm học hỏi được, đơn vị còn phối hợp chặt chẽ với các cơ sở chuyên môn như Trung tâm Chẩn đoán thú y Trung ương, Học viện Nông nghiệp Việt Nam… để xây dựng quy trình chăm sóc, phòng và điều trị bệnh bài bản. Mỗi ca bệnh đều được hội chẩn, rút kinh nghiệm, điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp với từng cá thể.

Đặc biệt, việc áp dụng kháng sinh đồ, là kỹ thuật thường dùng trong các bệnh viện lớn giúp xác định chính xác vi khuẩn gây bệnh và lựa chọn đúng loại thuốc. Với bệnh ký sinh trùng đường máu, mẫu máu được soi trực tiếp để “bắt đúng thủ phạm”, thay vì điều trị theo phán đoán. Nhờ đó, đàn ngựa dần ổn định, phát triển tốt, hiện nay cân nặng trung bình đạt 350 - 400kg.

Khoảnh khắc vỡ òa và một tháng “đi xin sữa”

Trong hành trình ấy, có những khoảnh khắc khiến cả đơn vị nhớ mãi. Đó là lần đầu tiên một chú ngựa con được chào đời. Con ngựa mẹ từ Mông Cổ, khi về nước đã ở giai đoạn cuối thai kỳ. “Chúng tôi hồi hộp lắm. khi biết ngựa sắp đẻ, anh em bố trí chuồng riêng, rơm rạ, bạt che kín để tạo cảm giác an toàn cho ngựa mẹ, cán bộ trực 24/24... Lãnh đạo các cấp cũng trực tiếp xuống động viên, cùng chờ đón”, Thượng tá Hưng kể lại.

Khoảng 19-20h, chú ngựa con cất tiếng hí đầu tiên. Trong khoảnh khắc ấy, niềm vui vỡ òa không chỉ với cán bộ, chiến sĩ mà cả các chuyên gia Mông Cổ cũng có mặt hôm đó. Chú ngựa ấy nay đã trưởng thành, nặng hơn 400kg, từng tham gia đội hình trong các lễ diễu binh, diễu hành lớn, trở thành niềm tự hào đặc biệt của lực lượng.

Trái với sự suôn sẻ trên, thử thách đã đến với chú ngựa thứ ba. Ngựa con được sinh ra khỏe mạnh, nhưng ngựa mẹ không có sữa. Thời điểm đó, không có ngựa cái nào khác đang nên cả đơn vị buộc phải “nuôi bộ”.

“Chúng tôi phải đi xin sữa ở các cơ sở nuôi ngựa khác, rồi mạnh dạn dùng sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh. Cách 3 giờ lại cho bú một lần”, Thượng tá Hưng nhớ lại.

Song song đó là hàng loạt biện pháp kích sữa cho ngựa mẹ như tăng dinh dưỡng, thuốc bổ, massage,... Sau gần một tháng kiên trì, ngựa mẹ bắt đầu có sữa. Ca “cứu nguy” ấy để lại nhiều bài học quý. “Giờ đây, chú ngựa ngày ấy đã trưởng thành khỏe mạnh, thậm chí sinh sản được 2 lứa”, Thượng tá Hưng phấn khởi kể.

Song song với sự tỉ mỉ, trách nhiệm cao trong chăm sóc, các chiến sĩ Đoàn CSCĐ Kỵ Binh cũng khéo léo, linh hoạt áp dụng các phương pháp thuần hóa theo hướng mềm dẻo, tôn trọng tập tính tự nhiên của ngựa để từ đó đã tạo nên Đoàn kỵ binh ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại, xuất hiện ngày càng quen thuộc.

6 năm, khoảng không quá dài nhưng đủ để biến đàn ngựa hoang nơi thảo nguyên băng giá thành những “chiến mã” vững vàng trong đội hình Kỵ binh. Phía sau dáng vóc uy nghiêm trong mỗi lễ diễu hành là cả một hành trình âm thầm của tri thức, khoa học và sự tận tụy. Khi xuân mới đang đến rất gần, câu lại càng thêm ấm áp như một minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của những con người đã dành trọn tâm huyết cho từng nhịp vó ngựa nơi thao trường.

Định hướng xây dựng kỵ binh tác chiến tại địa bàn rừng núi

Chia sẻ với Đời sống và Pháp luật về phương hướng phát triển lực lượng kỵ binh trong thời gian tới, Đại tá Đỗ Tiến Thùy - Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh CSCĐ cho biết, qua 6 năm Đoàn Kỵ binh đã không ngừng lớn mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng.

Trong những năm qua, lực lượng kỵ binh đã tham gia nhiều sự kiện chính trị – trọng đại của đất nước như các chương trình A50, A80 và nhiều sự kiện lớn tại các địa phương. Qua đó, hình ảnh lực lượng kỵ binh ngày càng được khẳng định, tạo dấu ấn tốt đẹp trong lòng nhân dân.

Về định hướng phát triển, Đại tá Đỗ Tiến Thùy nhấn mạnh mục tiêu xây dựng Đoàn Kỵ binh trở thành đơn vị chính quy, hiện đại, không chỉ dừng lại ở thực hiện nghi thức, nghi lễ hay tham gia một phần nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt tham gia tác chiến tại địa bàn rừng núi mà phương tiện hiện đại khó, hoặc không thể tiếp cận, góp phần tăng cường việc bảo đảm , trật tự, ổn định cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Xuân Bính Ngọ theo vó kỵ binh
Đại tá Đỗ Tiến Thùy - Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động trao đổi với phóng viên.

Lực lượng này cũng được tập trung phát triển theo hướng bền vững, lâu dài, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, huấn luyện và phát triển đàn ngựa. Đồng thời, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ chuyên nghiệp, có trình độ và kỹ năng cao trong khai thác, sử dụng hiệu quả lực lượng kỵ binh.

Theo Đại tá Đỗ Tiến Thùy, việc làm chủ và phát triển giống ngựa Mông Cổ tại Việt Nam là một thành công lớn. Những ngày đầu tiếp nhận, đơn vị gặp không ít khó khăn do khác biệt môi trường, khí hậu và hạn chế về kinh nghiệm. Tuy nhiên, cán bộ, chiến sĩ đã chủ động học hỏi từ tài liệu chuyên ngành, chuyên gia, đồng thời vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm dân gian của đồng bào các dân tộc trong nuôi dưỡng, huấn luyện ngựa, từng bước làm chủ kỹ thuật.

Hiện nay, đơn vị đang triển khai việc nhân giống, lai tạo ngựa, hướng tới kết hợp ưu điểm của ngựa Mông Cổ là bền sức, dai sức, đi đường trường tốt với các giống ngựa có tốc độ cao như ngựa đua. Mục tiêu là tạo ra giống ngựa vừa bền bỉ, vừa nhanh nhẹn, phù hợp hơn với điều kiện khí hậu Việt Nam và yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng Kỵ binh CSCĐ trong giai đoạn mới.

Đặng Thủy - Ngọc Tân

Bài đăng trên ấn phẩm Tạp chí Đời sống & Pháp luật số đặc biệt Xuân Bính Ngọ 2026

Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác

Đường dây nóng: 0878 443 344

3.5 25 5 Nhấn vào đây để đánh giá
Logo PhapLuatNet Xác thực thông tin của bạn để gửi bình luận
Họ tên
Email
 
0.30281 sec| 670.25 kb