Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI), với việc thông qua này, Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia có khung pháp lý toàn diện về AI.
Thiết lập "hàng rào" bảo vệ người dùng
Luật Trí tuệ nhân tạo được thiết kế theo mô hình luật khung, gồm 8 chương, 35 điều, tập trung vào các nguyên tắc nền tảng. Đồng thời, dành sự linh hoạt cho Chính phủ quy định chi tiết nhằm thích ứng với tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ.
Theo đại diện Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia, Luật AI được xây dựng với mục tiêu cao nhất là "lấy con người làm trung tâm", cân bằng giữa việc khai thác sức mạnh công nghệ và quản trị rủi ro đạo đức thông qua 3 trụ cột pháp lý.
Cụ thể, đạo đức là "Kim chỉ nam", theo đó, luật thể chế hóa đạo đức từ lý thuyết thành nguyên tắc pháp lý. Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Khung đạo đức AI quốc gia làm căn cứ để thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật minh bạch, công bằng và có trách nhiệm.
Quản trị dựa trên rủi ro, luật không cấm đoán cực đoan mà phân loại để quản lý. Các hệ thống AI có rủi ro cao (như trong y tế, giáo dục, tài chính) buộc phải tuân thủ các nghĩa vụ nghiêm ngặt về đánh giá tác động rủi ro, quản trị chất lượng dữ liệu và đặc biệt là phải có sự giám sát của con người.
Đồng thời, bảo vệ quyền lợi công dân. Luật thiết lập "hàng rào" bảo vệ người dùng thông qua việc bắt buộc gắn nhãn nội dung AI (như Deepfake) để ngăn chặn lừa đảo và thao túng thông tin.
Đồng thời, cơ chế Sandbox (thử nghiệm có kiểm soát) giúp nhận diện và xử lý sớm các rủi ro trước khi công nghệ được triển khai rộng rãi.
"Với cách tiếp cận này, Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng tạo dựng niềm tin số, bảo đảm quyền con người và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong kỷ nguyên AI", đại diện Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia cho hay.
Xây dựng một "môi trường số có đề kháng"
Trả lời thêm câu hỏi của Người Đưa Tin về luật AI đặt ra nhiều nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ người dân, đặc biệt là trẻ em, trong môi trường số. Một trong những điểm nhấn là quy định gán nhãn đối với nội dung do AI tạo ra. Tới đây, Bộ KH&CN cùng các đơn vị liên quan sẽ triển khai quy định này như thế nào để bảo vệ được đối tượng yếu thế trong môi trường số, các nội dung do AI tạo ra?
Đại diện Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia cho biết, để bảo vệ người dân, đặc biệt là trẻ em trên môi trường số, Bộ KH&CN sẽ triển khai quy định gắn nhãn AI theo 3 hướng trọng tâm.
Thứ nhất, quy định trách nhiệm minh bạch hóa (Điều 11): Nhà cung cấp bắt buộc phải đánh dấu nội dung do AI tạo ra ở cả 2 dạng: Nhãn dễ nhận biết bằng mắt thường và định dạng máy đọc để các nền tảng số tự động nhận diện, ngăn chặn tin giả ngay từ gốc.
Thứ hai, thiết lập "lệnh cấm" bảo vệ đối tượng yếu thế. Theo đó, luật nghiêm cấm việc sử dụng AI để khai thác điểm yếu của trẻ em, người cao tuổi nhằm gây tổn hại.
Bộ KH&CN đang cụ thể hóa điều này thông qua Khung đạo đức AI quốc gia, yêu cầu các sản phẩm AI cho trẻ em phải vượt qua các bộ tiêu chí an toàn nghiêm ngặt hơn mức bình thường.
Thứ ba, chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, theo đó, Bộ KH&CN đang xây dựng các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật để doanh nghiệp có "thước đo" gắn nhãn thống nhất. Đồng thời, Nhà nước sẽ cung cấp các công cụ nhận diện nội dung AI độc hại để hỗ trợ nhà trường và gia đình bảo vệ con em mình chủ động hơn.
Hành động này khẳng định thông điệp, Việt Nam không chỉ khuyến khích công nghệ phát triển mà còn xây dựng một "môi trường số có đề kháng" cho những đối tượng dễ bị tổn thương nhất.
Ông Sơn khẳng định, Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là một công cụ quản lý, mà còn là cam kết chiến lược của Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ, bảo vệ con người và kiến tạo một tương lai số chủ động, an toàn và nhân văn.
Trước khi các ĐBQH bấm nút thông qua, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Trí tuệ nhân tạo. Bộ trưởng khẳng định, AI là lĩnh vực mới và gần đây có sự phát triển rất nhanh, tác động ở tầng sâu đến kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và phương thức quản trị quốc gia. Việc Việt Nam sớm ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo là cần thiết, để tạo khuôn khổ pháp lý cho phát triển bền vững, bảo đảm chủ động nắm bắt cơ hội, cũng như quản trị rủi ro. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.
Hoàng Thị Bích/Người đưa tin






