Một số quy định mới về quản lý nợ công

Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ công.
2027173141741476459-1757328437770-177460288802577254217-1774604646.png
Một số quy định mới về quản lý nợ công

Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 05 Nghị định sau:

1- Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/6/2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ;

2- Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về quản lý nợ của chính quyền địa phương;

3- Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công;

4- Nghị định số 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 83/2023/NĐ-CP ngày 29/11/2023;

5- Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 79/2021/NĐ-CP ngày 16/8/2021.

Theo Bộ Tài chính, đối với Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, thực tế cho thấy, tiến độ chuẩn bị đầu tư, ký kết và giải ngân các dự án ODA, vay ưu đãi nước ngoài còn chậm, có dự án mất 3–5 năm để hoàn tất ký hiệp định vay. Luật số 141/2025/QH15 đã thay thế khâu "đề xuất dự án" bằng "đề xuất khoản vay" với thủ tục giản lược hơn, do đó nghị định cần được điều chỉnh tương ứng; đồng thời rà soát các quy định về hạn mức bảo lãnh Chính phủ, kế hoạch vay – trả nợ hằng năm, cơ chế cấp phát cho UBND cấp tỉnh và đơn vị sự nghiệp công lập.

Bổ sung trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ

Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 16 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về trình tự lập, quyết định kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm như sau:

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng mở rộng thẩm quyền quyết định kế hoạch vay, trả nợ, chuyển từ "Chính phủ quyết định" sang "cấp có thẩm quyền quyết định". Cụ thể:

"3. Đối tượng vay lại, đối tượng được bảo lãnh lập kế hoạch vay, trả nợ đối với các khoản vay lại và bảo lãnh Chính phủ, gửi Bộ Tài chính để xác định hạn mức vay ODA, vay ưu đãi về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ và Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, trình cấp có thẩm quyền quyết định."

Sửa đổi, bổ sung khoản 5 về việc xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm theo hướng đơn giản hóa quy trình, cụ thể hóa thời hạn, đồng thời bổ sung cơ chế kiểm soát rủi ro:

"5. Căn cứ vào tổng mức vay, trả nợ của ngân sách nhà nước hằng năm đã được Quốc hội quyết định, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm bao gồm cả hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 11 của năm liền kề trước năm kế hoạch.

Trường hợp tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ vượt quá tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định hạn mức bảo lãnh Chính phủ trước khi tổng hợp vào kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm.

Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm trước ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm kế hoạch."

Đồng thời, bổ sung khoản 7 vào sau khoản 6 về trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ:

7. Sau khi kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm đã được phê duyệt, trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ nêu tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ dẫn đến tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh thấp hơn hoặc bằng tốc độ tăng dư nợ của năm trước đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định điều chỉnh hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo khoản 3 Điều 14 Nghị định này. Hạn mức bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh được thực hiện theo quyết định của Chính phủ, không yêu cầu thực hiện thủ trình lại kế hoạch vay, trả nợ công.

Bổ sung các yêu cầu đối với việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu

Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 19 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về quản lý việc huy động vốn vay. Cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 về các yêu cầu vay vốn nước ngoài dưới hình thức thỏa thuận bằng văn bản, cụ thể như sau:

"3. Việc vay vốn nước ngoài dưới hình thức thỏa thuận bằng văn bản phải bảo đảm:

a) Chỉ vay cho đầu tư phát triển, không vay cho chi thường xuyên;

b) Các khoản vay mới được đánh giá tác động đến quy mô nợ công, trong giới hạn các chỉ tiêu an toàn nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn;

c) Đề xuất khoản vay được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

d) Việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận vay phải đảm bảo chương trình, dự án sử dụng vốn vay nước ngoài đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt văn kiện chương trình, quyết định đầu tư."

Đồng thời, bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 về các yêu cầu đối với việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu. Cụ thể:

"3a. Việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu phải bảo đảm:

a) Khoản bảo lãnh phải nằm trong hạn mức bảo lãnh Chính phủ đã được phê duyệt theo quy định của Luật Quản lý nợ công;

b) Việc thẩm định, cấp bảo lãnh Chính phủ phải đảm bảo chương trình, dự án sử dụng vốn vay Chính phủ bảo lãnh đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, quyết định đầu tư tại Chính phủ và cấp quản lý bảo lãnh Chính phủ; có phương án tài chính khả thi theo quy định tại Nghị định về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ."

Bổ sung quy định công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm

Đáng chú ý, Nghị định số 84/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 28a vào sau Điều 28 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP quy định về việc công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm. Cụ thể như sau:

"Điều 28a. Công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm

1. Nội dung và thời kỳ công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm bao gồm:

a) Bối cảnh, căn cứ xây dựng Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm kế hoạch;

b) Mục tiêu quản lý nợ năm kế hoạch;

c) Dự kiến nợ Chính phủ năm kế hoạch (nhu cầu vay, dự kiến nguồn vay, nghĩa vụ trả nợ; dự kiến các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ được tính toán theo quy định của Bộ Tài chính, dự kiến lộ trình trả nợ gốc của danh mục nợ Chính phủ hiện hành); dự kiến rút vốn, trả nợ năm kế hoạch đối với nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương;

d) Dự kiến các chỉ tiêu an toàn nợ công năm kế hoạch.

2. Bộ Tài chính công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính chậm nhất 15 ngày làm việc sau ngày Quyết định của Thủ tướng Chính phủ tại khoản 5 Điều 16 Nghị định này. Tài liệu công bố bằng tiếng Việt và được dịch ra tiếng Anh."

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 25/3/2026./.

Theo Báo Chính phủ