Mua bán nhà, đất bằng giấy viết tay trong thời điểm chưa được cấp Giấy chứng nhận là trường hợp được nhiều người quan tâm, nhất là khi thửa đất đã được sử dụng ổn định trong thời gian dài.
Cụ thể, theo nội dung câu hỏi của ông T.T.S, năm 2004, ông S có bán cho người quen đất và nhà không có Giấy chứng nhận (nhà xây năm 1997 đã đi đăng ký đất đai năm 1997) bằng giấy viết tay. Người quen sau đó đã đi đăng ký đất đai năm 2005 và năm 2014, hiện đang làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Đất sử dụng ổn định không lấn chiếm hay tranh chấp. Từ đó đến nay ông S không bị lập biên bản vi phạm hành chính về đất đai.
Ông S muốn hỏi, việc mua bán trên, ông và người mua có bị phạt theo các điều 8, 10, 17, 20 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP (hay các điều khác của Nghị định này) hay không?
Ngoài ra, có bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp số lợi bất hợp pháp hay không (theo khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)? Và nếu có thì tính từ thời điểm nào đến thời điểm nào và công thức tính như thế nào?

Trả lời vấn đề nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, khoản 3 Điều 17 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cụ thể, hành vi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất không đủ một trong các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thừa kế hoặc tặng cho quyền sử dụng đất;
b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cho thuê hoặc cho thuê lại hoặc thế chấp bằng quyền sử dụng đất;
c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Theo điểm a khoản 3 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm mà các bên liên quan đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc văn bản giao dịch đã ký kết.
Theo điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính 2 năm được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
Do đó, cơ quan có thẩm quyền phải xác định hành vi này còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không.
Trường hợp không còn thời hiệu xử phạt thì không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Quỳnh Anh (t/h)