Những ngày 'đánh địch mà đi, mở đường mà tiến"
Tháng Tư trở lại mang theo nắng vàng dịu nhẹ và những ký ức không thể phai mờ trong tâm khảm mỗi người Việt Nam. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua những ngày lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ của những người từng cầm súng, những người đi qua chiến tranh và chứng kiến khoảnh khắc đất nước trọn niềm vui thống nhất.
Trong không khí cả nước hướng về ngày 30/4, phóng viên Người Đưa Tin có dịp trò chuyện với Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh – nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ở tuổi 85, bước đi của ông đã chậm rãi hơn nhưng giọng nói vẫn sang sảng, ánh mắt vẫn ánh lên sự tập trung và khí chất của một người lính trận mỗi khi nhắc về những năm tháng đạn bom.
Ngồi trầm ngâm giữa dòng hồi ức, vị tướng già chậm rãi kể lại từng câu chuyện, từng con người, từng khoảnh khắc mà ông gọi là “những ngày tháng đầy sôi động” của đời binh nghiệp.

Năm 1961 khi mới 19 tuổi, ông viết đơn xin nhập ngũ dù không thuộc diện bắt buộc bởi cha ông là liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp. Nhưng như ông chia sẻ, chính lòng yêu nước cùng mối thù nhà đã thôi thúc ông nhất định phải ra chiến trường.
Từ một người lính binh nhì, ông trải qua nhiều chiến trường, nhiều cương vị khác nhau. Hơn 20 năm gắn bó với Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang là quãng thời gian mà ông cho rằng không thể nào quên.
“Biết bao sự kiện đã giúp tôi trưởng thành. Quân đoàn 2 thực sự là một phần máu thịt trong đời binh nghiệp của tôi”, ông xúc động chia sẻ. Với ông đó không chỉ là những trận đánh mà còn là tình đồng chí, đồng đội, thứ tình cảm được hun đúc qua bom đạn, qua những lần cận kề sinh tử.
Là lực lượng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, Quân đoàn 2 tham gia nhiều chiến dịch lớn từ kháng chiến chống Mỹ đến làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, Campuchia và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Mỗi chặng đường đều in đậm dấu ấn trưởng thành của mỗi người lính.

Nhắc đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ánh mắt vị tướng già chợt sáng lên. Ông nhớ rõ từng mốc thời gian, từng quyết định mang tính bước ngoặt.
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Khi ấy ông đang ở Sư đoàn 325, một trong những đơn vị chủ lực từ miền Bắc hành quân thần tốc vào Nam.
“Lúc đó ta quyết tâm giải phóng miền Nam còn địch thì cố giữ các địa bàn trọng yếu nên giao tranh vô cùng ác liệt”, ông kể.
Cuối tháng 3/1975, sau khi giải phóng Huế – Đà Nẵng, đơn vị của ông nhận lệnh tiến thẳng vào Sài Gòn. Với phương châm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” Quân đoàn 2 lần lượt giải phóng Phan Rang, Xuân Lộc là những điểm chốt then chốt trong tuyến phòng thủ cuối cùng của địch.
Áp lực lúc ấy không chỉ là chiến đấu mà còn là thời gian, trên hai hướng tiến công chính vào Sài Gòn có rất nhiều cầu cống trọng yếu. Nếu chậm trễ địch có thể phá hủy, gây cản trở lớn cho bước tiến của quân ta.
5 ngày quyết định của lịch sử
Đúng 17h ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Năm cánh quân đồng loạt tiến công, dội hỏa lực vào tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.
Ở hướng Đông Nam, Sư đoàn 325 nhanh chóng làm chủ Long Thành chỉ sau một ngày đêm chiến đấu, phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ. Không dừng lại, đơn vị tiếp tục tiến công Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, áp sát Cát Lái.
Rạng sáng 29/4, chiến dịch tổng công kích mở màn bằng loạt pháo dồn dập vào sân bay Tân Sơn Nhất, từ phát pháo lúc 4h30 hơn 300 quả đạn 130mm liên tiếp trút xuống, làm rung chuyển Sài Gòn và phát lệnh tiến công trên toàn mặt trận.
Năm cánh quân đồng loạt thọc sâu vào nội đô; cùng thời điểm, Sư đoàn 325 đánh chiếm thành Tuy Hạ, căn cứ hải quân Cát Lái, tiến vào giải phóng quận 9.
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh nhớ lại: “Đó là một đêm không ngủ khi giữa ánh pháo sáng hàng chục cán bộ quây quanh bản đồ, không khí vừa gấp gáp, căng thẳng, vừa dồn nén chờ bùng nổ cho trận đánh quyết định”.

Rạng sáng 30/4, Sư đoàn 325 bước vào trận đánh quyết định khi vượt sông Đồng Nai tiến vào nội đô. Để thăm dò tình hình, một xe lội nước chở 10 chiến sĩ được lệnh đi trước. Ngay lập tức địch phản ứng bằng tàu chiến từ Cát Lái, nhưng chỉ trong chốc lát pháo binh ta đã bắn chìm 3 tàu địch, mở toang cửa tiến công.
“Tới 9h cuộc vượt sông kết thúc thắng lợi. Khi đã vượt được sông, tinh thần chiến đấu của quân ta như tăng lên gấp bội. Đơn vị nào cũng muốn tiến thật nhanh vào trung tâm”, ông nói.
Dưới nắng hè chói chang, lá cờ giải phóng in bóng trên mặt sông Đồng Nai trở thành hình ảnh in đậm trong tâm trí mà ông bảo rằng mình “không bao giờ quên”.
Sau khi vượt cầu Sài Gòn các lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến thẳng vào trung tâm. Được nhân dân dẫn đường, xe tăng và bộ binh nhanh chóng áp sát các mục tiêu trọng yếu.
Đúng 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. “Lúc đó cảm xúc vỡ òa. Ai cũng hiểu chiến tranh đã kết thúc, đất nước đã thống nhất”, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh nhớ lại.
Tiếp tục những "chiến dịch" thời bình
Theo Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, chiến thắng chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có. “Đánh trận thì ai cũng muốn thắng, nhưng để thắng được nhiều yếu tố quyết định lắm”, ông nói chậm rãi.
Theo ông, sức mạnh cốt lõi làm nên chiến thắng của chúng ta nằm ngay trong chính tên gọi “Quân đội Nhân dân Việt Nam” được xây dựng trên nền tảng của chiến tranh nhân dân, nơi ý chí chiến đấu được hun đúc từ lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
“Người lính ra trận không phải vì cá nhân mình mà vì đất nước. Đằng sau họ là gia đình cần được bảo vệ, là quê hương cần được gìn giữ và thậm chí là những mất mát đã xảy ra không gì đong đếm được”, ông nhấn mạnh.
Với ông, lịch sử đã chứng minh một điều nhất quán “Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước bất kỳ thế lực nào xâm phạm chủ quyền đất nước”.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Khi chiến tranh lùi xa, ông được giao trọng trách Tư lệnh Quân đoàn 2. Từ năm 1995, ông công tác tại Bộ Quốc phòng với cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Nghỉ hưu không có nghĩa là dừng lại. Năm 2009, ông tiếp tục bước vào một “mặt trận” khác khi đảm nhận cương vị Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, gắn bó suốt 15 năm.
Từng trực tiếp chiến đấu tại những vùng bị rải chất độc hóa học, tận mắt chứng kiến hậu quả kéo dài qua nhiều thế hệ, ông cho biết bản thân luôn mang một món “nợ” với đồng đội.
“Đó là cuộc đấu tranh không tiếng súng nhưng dai dẳng và không kém phần quyết liệt để đòi quyền lợi chính đáng cho hàng triệu nạn nhân”, ông chia sẻ.
Hiện đã nghỉ công tác, nhưng những suy tư của vị tướng già vẫn hướng về hiện tại và tương lai. Gửi gắm tới thế hệ trẻ hôm nay, ông không nói nhiều về quá khứ mà nhấn mạnh trách nhiệm của thời bình.
“Thời bình cũng có những chiến dịch của riêng nó. Thế hệ trẻ hôm nay tuy không trực tiếp cầm súng ra trận, nhưng vẫn mang trên vai sứ mệnh gìn giữ đất nước bằng tri thức, bản lĩnh, kỷ luật và năng lực hành động.
Chung tay xây dựng đất nước phát triển, bảo vệ chủ quyền, giữ vững thành quả mà cha ông đã hy sinh, đánh đổi để giành lấy đó là trách nhiệm lớn lao và cũng là nhiệm vụ hết sức nặng nề”, ông bày tỏ.
Theo ông “mặt trận” của thời bình đòi hỏi sự bền bỉ, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm không kém gì những năm tháng khói lửa.
Điều đó không bắt đầu từ những điều lớn lao mà từ chính việc mỗi người trẻ học tập nghiêm túc, làm việc tử tế và không ngừng hoàn thiện bản thân.
Khép lại câu chuyện khi ánh chiều dần buông, chúng tôi xin phép ra về. Phía sau cánh cửa, vị tướng già vẫn đứng đó lặng lẽ nhưng vững vàng, như một phần sống động của lịch sử.
Kim Thoa - Đặng Thủy