Hộ kinh doanh có phải khai và nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài?

Hộ kinh doanh không thuộc trường hợp phải đăng ký thuế, kê khai, nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài. 

Bà N.T.H cho biết, hộ kinh doanh của bà có kinh doanh dịch vụ trải nghiệm chế tác và hoàn thiện tất cả công đoạn lồng đèn tre thủ công và dịch vụ phục vụ trải nghiệm pha chế cà phê. Bà bán dịch vụ này cho khách nước ngoài thông qua các sàn thương mại điện tử như: Get your guide, Viator, Klook, Airbnb. Vậy trường hợp hộ kinh doanh có phải đăng ký mã số thuế nộp thay để khai và nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài hay không? 

Thuế cơ sở 7 thành phố Đà Nẵng có ý kiến như sau:

Tại điểm b.1 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế:

“Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người nộp thuế bao gồm:

b.1) Tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài, tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng;"
Tại Khoản 4 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024

“Điều 4. Người nộp thuế

4. Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài."

- Tại Khoản 1 Điều 40 Nghị định 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế:

“Điều 40. Trực tiếp khai, tính, nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của tổ chức nước ngoài có phát sinh doanh thu tại Việt Nam thông qua hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử

1. Đăng ký giao dịch thuế điện tử và đăng ký thuế:

a) Tổ chức nước ngoài (bao gồm cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số ở nước ngoài) có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ khác có phát sinh doanh thu tính thuế tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài) thực hiện đăng ký giao dịch thuế điện tử cùng với đăng ký thuế lần đầu và được cơ quan thuế cấp mã số thuế thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế.

Trường hợp nghĩa vụ thuế của toàn bộ doanh thu phát sinh tại Việt Nam của nhà cung cấp nước ngoài đã được tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế hoặc chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện khấu trừ và nộp thay số thuế phải nộp theo quy định tại Điều 43 Nghị định này thì không phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế quy định tại điểm này;"

- Tại Điều 31, Điều 32 Thông tư 89/2026/T-BTC ngày 30/6/2026 quy định về khai, nộp thuế của nhà cung cấp nước ngoài; hồ sơ khai thuế của cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác và Hồ sơ kê khai và nộp thay số thuế đã khấu trừ của tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế khi mua hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác quy định tại khoản 3 Điều 43 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP
Tại điểm h.2 Khoản 2 Điều 4 Thông tư 90/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 quy định về đăng ký thuế

“Điều 4. Đối tượng đăng ký thuế

2. Người nộp thuế thuộc đối tượng thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế, bao gồm:

h) Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế khác (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân khẩu trừ nộp thay) trong các trường hợp sau:

h.1) Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khẩu trừ và nộp thay thuế cho nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài;

h.2) Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ và nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài;"

Căn cứ các quy định trên, hộ kinh doanh không phải là tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khẩu trừ thuế; không thuộc trường hợp phải đăng ký thuế, kê khai, nộp thay thuế cho nhà cung cấp nước ngoài. 

Nhà cung cấp nước ngoài có trách nhiệm thực hiện đăng ký thuế, khai thuế và nộp thuế tại Việt Nam theo quy định đối với doanh thu phát sinh tại Việt Nam, trừ trường hợp nghĩa vụ thuế đã được khấu trừ, nộp thay theo quy định.

Hải My