Quy định mới về đăng ký kết hôn có hiệu lực từ 1/3/2027

Từ ngày 1/3/2027, việc đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã sẽ được thực hiện theo quy định mới của Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16, trong đó nêu rõ các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết và yêu cầu hai bên nam, nữ phải trực tiếp có mặt khi đăng ký.

Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, trong đó quy định rõ thẩm quyền, nội dung và trình tự đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã.

Theo đó, tại Điều 16 của Luật này quy định UBND cấp xã thực hiện đăng ký kết hôn cho các trường hợp sau: Đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với nhau; đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với người nước ngoài, với công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, với người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; đăng ký kết hôn cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

dang-ky-ket-hon-1779951810.jpg
Ảnh minh họa

 

Nội dung đăng ký kết hôn gồm: Họ, chữ đệm (nếu có), tên; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; số định danh cá nhân; thông tin giấy tờ chứng minh về nhân thân của bên nam và bên nữ; ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn; ngày, tháng, năm xác lập quan hệ hôn nhân.

Bên nam và bên nữ phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn. 

Ngoài ra, tại Điều 15 của Luật này cũng quy định về thẩm quyền của UBND cấp xã được thực hiện đăng ký khai sinh cho các trường hợp sau: Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam; trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh, về cụ trú tại Việt Nam và có ít nhất một bên cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam; công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam, được sinh ra tại Việt Nam mà chưa được đăng ký khai sinh, đã có hồ sơ, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, xác nhận.  

UBND cấp xã, theo lựa chọn của người yêu cầu đăng ký khai sinh, có trách nhiệm chủ động thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em khi dữ liệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử và đáp ứng đủ các điều kiện gồm: Trẻ em được sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; người yêu cầu đăng ký khai sinh đã cung cấp đủ nội dung đăng ký khai sinh theo quy định. 

Trường hợp trẻ em sinh ra tại Việt Nam không được đăng ký khai sinh theo quy định nêu trên thì trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày trẻ em được sinh ra, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

Quỳnh Anh (t/h)