Đề xuất tiêu chí, cách tính điểm công nhận khu kinh tế đặc biệt

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị. Trong đó, Bộ đề xuất tiêu chí, cách tính điểm và trình tự, thủ tục công nhận khu kinh tế đặc biệt.

Tiêu chí, cách tính điểm và trình tự, thủ tục công nhận khu kinh tế đặc biệt được Bộ Tài chính đề xuất tại Chương II (Điều 4 đến Điều 10) của dự thảo.

Theo đó, Điều 4 quy định tiêu chí và khung điểm công nhận khu kinh tế đặc biệt theo cơ chế đánh giá hai bước: xã, phường, đặc khu chỉ được xem xét chấm điểm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này và phải đạt tổng số điểm từ 90 điểm trở lên theo thang điểm 100 quy định tại Điều 6 Nghị định này.

Cụ thể, khoản 2 Điều 4 dự thảo quy định 04 điều kiện được đánh giá theo mức đạt hoặc không đạt, không thay thế việc chấm điểm, gồm:

a) Là đơn vị hành chính cấp xã (xã, phường, đặc khu) có ranh giới địa lý xác định;

b) Có vị trí chiến lược, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, trong đó khu vực đề nghị công nhận thuộc địa bàn được xác định trở thành cực tăng trưởng quốc gia, cực tăng trưởng vùng hoặc thuộc vùng động lực quốc gia theo chủ trương, định hướng của cấp có thẩm quyền hoặc Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng đã được phê duyệt.

c) Trong phạm vi địa giới hành chính có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên được cấp có thẩm quyền công bố;

d) Có quy mô dân số, diện tích tự nhiên lớn, trong đó: có quy mô dân số từ 50.000 người trở lên; có diện tích tự nhiên từ 300 km² trở lên. Đối với phường, diện tích tự nhiên không quá 500km².

Tiêu chí tính điểm

Về tiêu chí tính điểm (thang điểm 100, Điều 6), dự thảo cụ thể hóa các tiêu chí của Luật thành 05 nhóm: (i) vị trí chiến lược, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, tối đa 35 điểm, gồm 03 mức theo vai trò của địa bàn (cực tăng trưởng quốc gia 25 điểm, cực tăng trưởng vùng 24 điểm, vùng động lực quốc gia 23 điểm, lấy mức cao nhất nếu đáp ứng đồng thời) và cộng thêm tối đa 10 điểm đối với khu vực có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh, là đặc khu hoặc thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) trình độ phát triển của xã, phường, đặc khu, tối đa 10 điểm, theo 03 chỉ tiêu về tự cân đối ngân sách, cơ cấu kinh tế công nghiệp - xây dựng - dịch vụ và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; (iii) quy mô dân số, diện tích tự nhiên, tối đa 15 điểm; (iv) khả năng huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng và khả năng đóng góp ngân sách nhà nước, tối đa 20 điểm; (v) tiềm năng, lợi thế phát triển các ngành, nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật Phát triển đô thị, tối đa 20 điểm, trong đó điểm về cảng biển và cảng hàng không quốc tế được cộng dồn khi đáp ứng đồng thời nhưng không quá 12 điểm. Điều 5 quy định nguồn số liệu, thời điểm xác định và trách nhiệm cung cấp số liệu, bảo đảm thống nhất với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu thống kê và chuyên ngành có liên quan.

Các Điều 7 đến Điều 10 quy định về hồ sơ đề án (gồm: Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đề án công nhận, báo cáo thẩm tra của Sở Tài chính và dự thảo nghị quyết của Chính phủ); trình tự, thủ tục đề nghị công nhận từ khâu lập, thông qua đề án tại địa phương đến khi gửi Bộ Tài chính để tổ chức thẩm định thông qua Hội đồng thẩm định liên ngành, khảo sát thực địa khi cần thiết; nội dung thẩm định (căn cứ chính trị, pháp lý, tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ; sự phù hợp quy hoạch; việc đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 4; kết quả chấm điểm; tính khả thi về nguồn lực; tác động kinh tế, xã hội, ngân sách, môi trường, quốc phòng, an ninh); và hồ sơ, thủ tục Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thiện trên cơ sở chủ trương của cấp có thẩm quyền, trình Chính phủ xem xét, ban hành nghị quyết công nhận.

Dự thảo đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng TTĐT Bộ Tài chính./.

Theo Báo Chính phủ