Quy định việc tổ chức chi trả khấu trừ thuế TNCN của người lao động

Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân làm cam kết gửi tổ chức chi trả để làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ...

Theo nghị định số 253/2026/ND-CP về hướng dẫn luật thuế TNCN, tại khoản 2 điều 50 - Khấu trừ thuế có quy định: "Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức chi trả để tổ chức chi trả làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ..."

Độc giả L.H.Đ đặt câu hỏi với nội dung như sau:

1. Cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên nghĩa là cá nhân đó chỉ có thu nhập từ các hợp đồng dịch vụ, khoán...mà không phải hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động đúng hay không?

2. Trường hợp tại thời điểm làm cam kết, cá nhân đó chỉ có thu nhập nêu trên, hoặc cá nhân đó tự ý khai báo với đơn vị chi trả thu nhập sai thông tin (ví dụ trước đó có làm cho công ty khác và có ký hợp đồng lao động - theo quy định Bộ luật lao động) nhưng sau đó làm việc tại công ty khác và ký hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động, thì đơn vị trước đó cá nhân làm cam kết có bị Cơ quan thuế yêu cầu khấu trừ 10% theo quy định của nghị định 253 hay không?

nld-1784557235.jpg
Ảnh minh họa: Báo Chính phủ

Thuế tỉnh Thanh Hóa giải đáp như sau:

Căn cứ khoản 2 Điều 50: Khấu trừ thuế tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân:

2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cả nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.”

Cá nhân thuộc đối tượng khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên là cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao dộng dưới 03 tháng mà mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên.

Căn cứ khoản 1 Điều 67: Khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân:

“Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (kể cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán, tổ chức ký hợp đồng làm đại lý bán đúng giá đối với hoạt động bảo hiểm, xổ số, bán hàng đa cấp, tổ chức ký hợp đồng với cá nhân thực hiện hoạt động môi giới; tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân không cư trú; tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam hoàn trả chi phí tiền lương, tiền công cho bên nước ngoài) trước khi chi trả các khoản thu nhập cho cá nhân có trách nhiệm thực hiện khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế, trừ các khoản thu nhập quy định tại khoản 4 Điều này.."

Trường hợp tại thời điểm làm cam kết, cá nhân đó chỉ có thu nhập nêu trên, hoặc cá nhân đó tự ý khai báo với đơn vị chi trả thu nhập sai thông tin (ví dụ trước đó có làm cho công ty khác và có ký hợp đồng lao động - theo quy định Bộ luật lao động) nhưng sau đó làm việc tại công ty khác và ký hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động, thì đơn vị trước đó cá nhân làm cam kết vẫn phải khấu trừ 10% theo quy định.

Hải My