Một độc giả đặt câu hỏi về cách tính thuế thu nhập cá nhân khi cho tặng quyền sở hữu sử dụng đất với nội dung như sau:
Thửa đất do 2 chị em là N.T.H và N.T.Th đồng sở hữu. Nay 2 chủ sở hữu lập hợp đồng tặng cho 3 người gồm: ông H.V.T (con đẻ bà H.), ông H.T.H (con đẻ bà Th.) và cháu H.Đ.A.H. Theo quy định, tặng cho giữa mẹ và con đẻ được miễn thuế thu nhập cá nhân, chỉ tính thuế đối với người cháu. Trong trường hợp này việc cho tặng tính thuế thu nhập cá nhân cụ thể như thế nào?
Thuế Cơ sở 1 thành phố Huế trả lời như sau:
Thứ nhất, căn cứ xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập miễn thuế được quy định tại Khoản 9 Điều 3 và Khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 như sau:
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân: “Thu nhập từ nhận thừa kể, quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng” thuộc diện chịu thuế TNCN.
Theo khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân: “Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau” thuộc thu nhập được miễn thuế.
Căn cứ quy định trên thì trường hợp tặng cho giữa bà N.T.H, bà N.T.Th và các cá nhân nhận tặng cho chỉ được miễn thuế đối với phần giá trị tài sản nhận tặng cho có mối quan hệ quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân nêu trên thuộc diện miễn thuế theo quy định.
Thứ hai: Căn cứ xác định phần tài sản được định đoạt tặng cho trên hợp đồng
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 739626, bà bà N.T.H, bà N.T.Th là đồng sở hữu quyền sử dụng đất, không có thỏa thuận tỷ lệ sở hữu.
Tại khoản 2 Điều 210 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 quy định như sau:
“2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung."
Do đó, về nguyên tắc pháp lý, bà bà N.T.H, bà N.T.Th có quyền định đoạt đối với 1/2 giá trị quyền sử dụng đất của mình (trường hợp nếu có thỏa thuận khác thì sẽ phân chia theo thỏa thuận).
Thứ ba: Xác định nghĩa vụ Thuế trong trường hợp cụ thể như sau:
Nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng ngày 16/01/2026 không thể hiện tỷ lệ tặng cho cụ thể mà chỉ thể hiện Bà N.T.Th và bà N.T.H tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ba người: Ông H.V.T (con đẻ bà H.), ông H.T.H (con đẻ bà Th.) và cháu H.Đ.A.H.
Vì quyền sử dụng đất là tài sản sở hữu chung nên việc tặng cho được xác định theo từng phân quyền của từng người tặng cho chia đều cho 3 người nhận tặng cho:
a. Đối với 1/2 giá trị tài sản của bà N.T.H
Phần tài sản này được chia cho 03 người nhận. Trong đó: Phần nhận tặng cho của ông H.V.T (quan hệ mẹ - con đẻ) được miễn thuế TNCN; Phần nhận tặng cho ông H.T.H và cháu H.Đ.A.H không thuộc diện miễn thuế, phải tính thuế TNCN theo quy định.
b. Đối với 1/2 giá trị tài sản của bà N.T.Th
Phần tài sản này được chia cho 03 người nhận. Trong đó: Phần nhận tặng cho của ông H.T.H (quan hệ mẹ con đẻ) được miễn thuế TNCN; Phần nhận tặng cho ông H.V.T và cháu H.Đ.A.H không thuộc diện miễn thuế, phải tính thuế TNCN theo quy định.
Hải My






