Trường hợp nào doanh nghiệp trong nước không phải kê khai, nộp thuế thay đơn vị cung cấp nước ngoài?

Nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký, kê khai nộp thuế trực tiếp đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì doanh nghiệp không phải kê khai khấu trừ thuế thay cho nhà cung cấp nước ngoài.

Độc giả Y.H cho biết, công ty bà có mua dịch vụ phần mềm của nhà cung cấp nước ngoài Anthropic, PBC. Nhà cung cấp đã xuất Hóa đơn, trên hóa đơn có ghi: mã số thuế Việt Nam của Anthropic; Thuế GTGT do Anthropic tự thu (10%).Tổng số tiền công ty đã thanh toán qua ngân hàng là 1.600 USD.

Độc giả đặt câu hỏi: Công ty có phải kê khai, nộp thay thuế nhà thầu cho hóa đơn này nữa không? Hóa đơn thương mại này cùng chứng từ thanh toán ngân hàng có được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN không? Khoản thuế GTGT 10% do nhà cung cấp tự thu nêu trên, công ty có được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào không? 

Thuế thành phố Bắc Ninh trả lời như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 3, Điều 4 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 quy định về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế:

"Điều 3. Đối tượng chịu thuế

Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.

Điều 4. Người nộp thuế

3. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này; tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.

4. Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khẩu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khẩu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.

5. Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cả nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.

Căn cứ quy định tại Điều 25, Điều 26 Mục 2 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 của Chính phủ về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

"Mục 2. ĐIỀU KIỆN KHẨU TRỪ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐẦU VÀO

Điều 25. Hóa đơn, chứng từ nộp thuế

Cơ sở kinh doanh phải có hóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng (bao gồm cả chứng từ nộp thuế giả trị gia tăng theo tỷ lệ % nhân với doanh thu thay cho phía nước ngoài).

Điều 26. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đổi với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:

Căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị định 254/2026/NĐ-CP ngày 30/06/2026 của Chính phủ quy định về giải thích từ ngữ:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

5. Hóa đơn, chứng từ hợp pháp là hóa đơn, chứng từ đảm bảo đúng về hình thức và nội dung theo quy định tại Nghị định này.

Căn cứ Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định các khoản chỉ được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:

“Điều 9. Các khoản chỉ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chỉ không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:

a) Khoản chỉ thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tỉnh trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;

b) Khoản chỉ có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chỉ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đổi với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Điều 10. Các khoản chỉ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể như sau:

1. Các khoản chỉ không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này.

Căn cứ Điều 31 Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính quy định về khai, nộp thuế của nhà cung cấp nước ngoài:

"Điều 31. Khai, nộp thuế của nhà cung cấp nước ngoài; hồ sơ khai thuế của cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác.

1. Khai thuế, nộp thuế trực tiếp của Nhà cung cấp nước ngoài:

a) Nhà cung cấp nước ngoài kê khai trực tiếp với cơ quan thuế hoặc thông qua đơn vị nhân ủy quyền. Hồ sơ khai thuế của nhà cung cấp nước ngoài thực hiện theo quy định tại điểm 16 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Trường hợp sau khi hoàn thành thủ tục khai thuế, nộp thuế, nhà cung cấp nước ngoài phát hiện có sai, sót thì thực hiện kê khai điều chỉnh số thuế phải nộp phát sinh tại Việt Nam theo quy định tại điểm 16 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này;

Căn cứ quy định nêu trên, Thuế thành phố Bắc Ninh hướng dẫn Công ty như sau:

- Về nguyên tắc trường hợp nhà cung cấp nước ngoài đã đăng ký, kê khai nộp thuế trực tiếp đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì Công ty của độc giả không phải kê khai khấu trừ thuế thay cho nhà cung cấp nước ngoài.

- Trường hợp Công ty của độc giả không có chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài thì không đáp ứng điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 của Chính phủ.

- Công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, nếu đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 9 và không thuộc các khoản chi phí không được trừ theo quy định tại Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ.

Hải My