Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng, gồm tư vấn thiết kế, khoan khảo sát địa chất và tư vấn giám sát. Trong quá trình triển khai dự án, Công ty có thuê nhân sự theo hình thức khoán việc với 02 trường hợp:
1. Hợp đồng cung cấp dịch vụ chuyên gia với cá nhân: Cá nhân nhận thực hiện công việc theo dự án, Công ty không quản lý thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện công việc. Khi hoàn thành, cá nhân bàn giao hồ sơ, sản phẩm để nghiệm thu và thanh toán. Công ty thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN theo quy định.
2. Hợp đồng giao khoán công việc cho nhóm cá nhân/tổ đội: Công ty ký hợp đồng với trưởng nhóm đại diện theo giấy ủy quyền của các thành viên. Riêng công việc khoan khảo sát địa chất, Công ty giao khoán trọn gói theo mét khoan cho tổ đội. Nhóm/tổ đội chủ động tổ chức thực hiện, Công ty không trực tiếp quản lý thời gian, địa điểm và quá trình làm việc. Sau khi nghiệm thu, trưởng nhóm cung cấp hồ sơ, danh sách và số tiền thanh toán cho từng thành viên; Công ty chuyển khoản trực tiếp cho từng cá nhân và thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN theo quy định. Công ty lưu hồ sơ hợp đồng, ủy quyền và nghiệm thu với trưởng nhóm.
Kính đề nghị Quý Bộ hướng dẫn: Với hai hình thức hợp đồng nêu trên, Công ty có phải tham gia BHXH bắt buộc cho các cá nhân nhận khoán hoặc từng thành viên tổ đội không? Việc xác định nghĩa vụ căn cứ vào tên hợp đồng hay bản chất quan hệ và cách thức thực hiện công việc?
Đối với hợp đồng khoán trọn gói theo mét khoan cho tổ đội, trưởng nhóm đại diện ký hợp đồng nhưng Công ty thanh toán trực tiếp cho từng thành viên, nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc được xác định như thế nào?
Công ty có phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc loại bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc nào khác cho các đối tượng trên không? Nghĩa vụ này có khác nhau giữa công việc tư vấn thiết kế, khoan khảo sát địa chất và tư vấn giám sát ngoài hiện trường không?
Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời như sau:
Căn cứ tại khoản 1 Điều 13, Bộ luật lao động năm 2019 quy định:
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Căn cứ khoản 2 Điều 18, Bộ luật lao động năm 2019 quy định:
Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động. Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định:
Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;
Người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và tổ chức cơ yếu; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Như vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên việc xác định nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc không chỉ căn cứ vào tên gọi của hợp đồng mà phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận thực tế, phương thức tổ chức thực hiện công việc, bản chất quan hệ giữa các bên (mức độ quản lý, điều hành, giám sát), cụ thể như sau:
1. Về Hợp đồng cung cấp dịch vụ chuyên gia với cá nhân
Theo thông tin Ông/bà cung cấp, cá nhân thực hiện công việc theo dự án, Công ty không quản lý thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện công việc; khi hoàn thành, cá nhân bàn giao hồ sơ, sản phẩm để nghiệm thu và thanh toán; Công ty thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN theo quy định thì đây là những căn cứ để xem xét xác định quan hệ giữa Công ty và cá nhân.
Trường hợp 1: Cá nhân thực hiện công việc độc lập, tự chủ về phương thức, thời gian, địa điểm thực hiện và chịu trách nhiệm về sản phẩm, kết quả dịch vụ theo thỏa thuận; quan hệ giữa các bên không có nội dung mang bản chất của quan hệ lao động theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 thì cá nhân và công ty không thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc.
Trường hợp 2: Cá nhân phải trực tiếp thực hiện công việc theo sự phân công, quản lý, điều hành, giám sát của Công ty và được trả công, tiền lương theo quan hệ lao động, thì mặc dù hợp đồng được đặt tên là “hợp đồng dịch vụ chuyên gia” nhưng có đủ các yếu tố quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 thì vẫn được xác định là hợp đồng lao động. Khi đáp ứng các điều kiện thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Công ty có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký và đóng BHXH bắt buộc theo quy định.
Việc Công ty khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân đối với khoản chi trả cho cá nhân không phải là căn cứ độc lập để xác định hoặc loại trừ nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc.
2. Về Hợp đồng giao khoán công việc cho nhóm cá nhân/tổ đội
Đối với trường hợp này, việc xác định nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc cần căn cứ vào bản chất quan hệ giữa Công ty với trưởng nhóm và từng thành viên trong tổ đội, cụ thể như sau:
Nếu nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng thể hiện trưởng nhóm và từng thành viên trong tổ đội làm việc có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của Công ty theo bản chất của quan hệ lao động, thì hợp đồng mà 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác vẫn được xác định là hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019.
Do đó, người (người đội trưởng của tổ đội) và từng công nhân tham gia thực hiện công việc trong tổ đội có làm việc từ 01 tháng trở lên và Công ty thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; công ty có trách nhiệm phối hợp với người lao động để lập hồ sơ, đóng BHXH bắt buộc theo đúng quy định của pháp luật.
Nếu trưởng nhóm và tổ đội chủ động tổ chức, phân công nhân lực, lựa chọn phương thức thực hiện công việc, tự chịu trách nhiệm về kết quả theo hợp đồng; Công ty chỉ giao yêu cầu về khối lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng và nghiệm thu sản phẩm, kết quả hoàn thành mà không hình thành quan hệ quản lý, điều hành, giám sát mang bản chất của quan hệ lao động, thì hợp đồng mà 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác chưa được xác định là hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. Trong trường hợp này, Công ty không phải đóng BHXH bắt buộc cho trưởng nhóm và các thành viên.
Theo quy định của pháp luật về BHXH thì việc Công ty đã thực hiện khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân đối với từng cá nhân trong tổ đội theo danh sách do người đội trưởng cung cấp không làm thay đổi, loại trừ hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc.
3. Về việc Công ty có phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc loại bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc nào khác cho các đối tượng trên không? Nghĩa vụ này có khác nhau giữa công việc tư vấn thiết kế, khoan khảo sát địa chất và tư vấn giám sát ngoài hiện trường không?
Đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tại Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định như sau:
1. Đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục này là người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản 1 Điều 2 và người sử dụng lao động quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội.
2. Trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người lao động được giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo nguyên tắc đóng, hưởng do Chính phủ quy định.
Như vậy, người sử dụng lao động chỉ đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi sử dụng nhóm người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2024.
Đối với nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thuộc hệ thống bảo hiểm xã hội. Hiện chưa có loại bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc nào khác cho các đối tượng trên.
Về việc xác định Nghĩa vụ này có khác nhau giữa công việc tư vấn thiết kế, khoan khảo sát địa chất và tư vấn giám sát ngoài hiện trường không? Nội dung này không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Hải My