Hộ kinh doanh V.H.Đ là người sáng tạo nội dung trên nền tảng YouTube và phát sinh thu nhập từ hoạt động này. Người nộp thuế đặt câu hỏi như sau:
1. Đối với trường hợp cá nhân đã hoạt động trên YouTube trong một thời gian, đã phát sinh thu nhập từ nước ngoài chuyển về Việt Nam nhưng chưa thực hiện kê khai thuế, tôi xin hỏi các vấn đề sau: Trường hợp doanh thu của các năm trước dưới ngưỡng chịu thuế thì có phải thực hiện kê khai thuế hay không? Nếu phải kê khai, cá nhân cần thực hiện những thủ tục gì để kê khai bổ sung đối với các khoản thu nhập đã phát sinh?
2. Cách xác định số thuế phải nộp đối với các khoản thu nhập này được thực hiện như thế nào?
3. Trường hợp cá nhân chủ động kê khai bổ sung và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế thì có bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc tính tiền chậm nộp hay không?
Thuế cơ sở 3 tỉnh Phú Thọ có ý kiến như sau:
1. Đối với trường hợp cá nhân đã hoạt động trên YouTube trong một thời gian, đã phát sinh thu nhập từ nước ngoài chuyển về Việt Nam nhưng chưa thực hiện kê khai thuế, tôi xin hỏi các vấn đề sau: Trường hợp doanh thu của các năm trước dưới ngưỡng chịu thuế thì có phải thực hiện kê khai thuế hay không? Nếu phải kê khai, cá nhân cần thực hiện những thủ tục gì để kê khai đối với các khoản thu nhập đã phát sinh?
Căn cứ nội dung hỏi của NNT, cơ quan thuế ý kiến về việc kê khai thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh từ năm 2025 trở về trước như sau:
Tại khoản 1 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định:
"Điều 42. Nguyên tắc khai thuế, tính thuế
1. NNT phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế."
Tại Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hồ sơ khai thuế. Theo đó, hồ sơ khai thuế đối với từng loại thuế, từng phương pháp khai thuế và từng đối tượng NNT về quản lý thuế. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện khai thuế, tỉnh thuế theo nguyên tắc tính thuế như đã nêu tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện khai thuế theo phương pháp kê khai hoặc theo từng lần phát sinh, Điều 11, Điều 12 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ Tài chính quy định thành phần hồ sơ kê khai, Điều 8 Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định hồ sơ, thủ tục kê khai, nộp thuế của hộ, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán và các tài liệu kèm theo theo từng trường hợp.
Đối chiếu các quy định nêu trên, trường hợp NNT đã phát sinh hoạt động kinh doanh nhưng chưa thực hiện kê khai thuế thì việc thực hiện nghĩa vụ khai thuế được xem xét theo quy định của pháp luật theo từng thời kỳ.
Trường hợp thuộc diện phải thực hiện khai thuế thì cá nhân lập hồ sơ khai thuế theo quy định tại Điều 11 hoặc Điều 12 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ Tài chính hoặc Điều 8 Nghị định số 117/2025/NĐ-CP (tùy theo phương pháp khai thuế).
Đối với nội dung này, đề nghị NNT liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế, cung cấp bổ sung các thông tin cần thiết để cơ quan thuế có cơ sở hướng dẫn chỉ tiết theo từng trường hợp cụ thể.
2. Cách xác định số thuế phải nộp đối với các khoản thu nhập này được thực hiện như thế nào?
2.1. Đối với doanh thu phát sinh đến hết ngày 31/12/2025:
Căn cứ khoản 2 Điều 4, Điều 10 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ Tài chính, trường hợp doanh thu trong năm trên 100 triệu đồng thì cá nhân thuộc diện phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN. Doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh theo quy định.
Căn cứ Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 40/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính, trường hợp hoạt động sáng tạo nội dung trên YouTube được xác định là hoạt động cung cấp dịch vụ, số thuế phải nộp được xác định như sau:
- Thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế x 5%.
- Thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế x 2%.
2.2. Đối với doanh thu phát sinh từ ngày 01/01/2026:
Kể từ ngày 01/01/2026, việc xác định số thuế phải nộp được thực hiện theo Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026, Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ. Theo đó, để tỉnh được số thuế phải nộp cần thực hiện theo các bước như sau:
- Bước 1: Xác định doanh thu năm để xác định cá nhân có thuộc diện phải nộp thuế hay không.
- Bước 2: Xác định phương pháp tính thuế áp dụng theo quy định hiện hành;
- Bước 3: Căn cứ tính thuế và cách xác định số thuế phải nộp được thực hiện theo phương pháp trong ứng quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Do đó, không phải mọi trường hợp từ năm 2026 đều áp dụng một công thức tính thuế như giai đoạn trước năm 2026. Đề nghị NNT liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế, cung cấp bổ sung thông tin để được hướng dẫn cụ thể theo từng trường hợp.
3. Trường hợp cá nhân chủ động kê khai bổ sung và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế thì có bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc tính tiền chậm nộp hay không?
Trường hợp 1: Cá nhân chưa từng kê khai thuế, nay chủ động kê khai và nộp đầy đủ số thuế phát sinh
Căn cứ Điều 42, Điều 44 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14; Điều 6 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15; Điều 10 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ, NNT có trách nhiệm khai thuế đầy đủ, chính xác, trung thực và nộp hồ sơ khai thuế đúng thời hạn.
Căn cứ Điều 59 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Điều 16 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, trường hợp NNT nộp tiền thuế quá thời hạn quy định thì phải nộp tiền chậm nộp theo mức quy định của Luật Quản lý thuế, trừ các trường hợp không tính tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật.
Về việc xử phạt vi phạm hành chính, việc NNT chủ động kê khai trước khi cơ quan thuế phát hiện không đồng nghĩa với việc được miễn xử phạt. Việc có bị xử phạt hay không được xác định căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể, thời hiệu xử phạt, hình thức xử phạt, mức xử phạt được quy định tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ, Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn theo từng thời kỳ.
Do đó, trường hợp ông V.H.Đ chủ động thực hiện kê khai đối với các khoản thu nhập chưa kê khai trước đây thì cơ quan thuế sẽ xem xét hồ sơ, xác định hành vi vi phạm (nếu có), thời hiệu xử phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định việc xử phạt theo quy định; đồng thời xác định nghĩa vụ nộp tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Trường hợp 2: Cá nhân đã kê khai thuế, nay phát hiện sai, sót và thực hiện khai bổ sung.
Căn cứ Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14; Điều 12 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, NNT được quyền khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi phát hiện hồ sơ đã nộp còn sai, sót theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Trường hợp việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp thì NNT phải nộp đủ số tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp phát sinh theo quy định của Luật Quản lý thuế tại từng thời kỳ.
Việc có bị xử phạt vi phạm hành chính hay không được xem xét trên cơ sở quy định của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ, Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn theo từng thời kỳ, căn cứ thời điểm khai bổ sung, nguyên nhân sai, sót, thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuê và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trường hợp 3: Cơ quan thuế phát hiện trước khi NNT tự giác kê khai.
Trường hợp cơ quan thuế phát hiện NNT chưa kê khai hoặc khai không đầy đủ doanh thu, thu nhập thông qua công tác quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra hoặc thông tin do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì cơ quan thuế sẽ xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020, Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ, Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngoài việc nộp đủ số tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp theo quy định, NNT còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với hành vi vi phạm; trường hợp có dấu hiệu trốn thuế thì việc xử lý được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Hải My