Ông T.A cho biết, pháp luật đang quy định mức giảm trừ đối với chi phí khám, chữa bệnh hiểm nghèo hoặc các chi phí khám, chữa bệnh thuộc diện được trừ khi tính thuế TNCN.
Tuy nhiên, bệnh tật là rủi ro khách quan, không ai mong muốn và không chủ động được chi phí. Hoàn cảnh gia đình ông hiện có 02 vợ chồng, chưa có người phụ thuộc.
Vừa qua, vợ ông phải tiến hành phẫu thuật tử cung và buồng trứng, không có bảo hiểm y tế hỗ trợ nên tổng chi phí khám, chữa bệnh lên tới khoảng 100 triệu đồng (chi phí này được thanh toán chia làm nhiều đợt).
Ông T.A hỏi: Với tổng chi phí khám, chữa bệnh lớn (khoảng 100 triệu đồng) không có bảo hiểm y tế như trên, gia đình ông có được khấu trừ, hoàn thuế TNCN hay được hưởng chính sách hỗ trợ nào hay không?
Đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn cụ thể các điều kiện, thủ tục và hồ sơ cần thiết để người lao động được xem xét giảm trừ hoặc hoàn thuế đối với chi phí khám, chữa bệnh trong trường hợp này.
Thuế Thành phố Hà Nội có ý kiến như sau:
Căn cứ Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân:
Tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điều 49 quy định các khoản giảm trừ và thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công
"Điều 49. Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác:
...2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chỉ cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chỉ cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm; ...
3. Các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Hóa đơn, chúng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế,
c) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
4. Trường hợp áp dụng giảm thuế đối với các khoản chi cho y tế tại Điều 40 của Nghị định này hoặc phát sinh các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 của Nghị định này thì các khoản chi này không tính vào các khoản giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này."
- Tại Điểm b Khoản 4 Điều 8 quy định các khoản chỉ cho y tế là thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công không tỉnh vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân:
“ Điều 8. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
...4. Các khoản thu nhập không mang tính chất tiền lương, tiền công không tỉnh vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
...b) Khoán tiền hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động bao gồm: con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi.
Mức hỗ trợ không tính vào thu nhập chịu thuế là số tiền người sử dụng lao động hỗ trợ thực tế theo hóa đơn, chứng từ nhưng tối đa không quả số tiền trả viện phí của người lao động và thân nhân người lao động sau khi đã trừ số tiền chỉ trả của tổ chức bảo hiểm (nếu có).
Việc xác định bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;"
- Tại Điều 40 quy định giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo:
"Điều 40. Giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo
1. Người nộp thuế gặp khó khăn bị do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Việc xác định bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
2. Việc xét giảm thuế được thực hiện theo năm. Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo trong năm nào thì được xét giảm số thuế phải nộp của năm đó.
3. Số thuế phải nộp làm căn cứ xét giảm thuế là tổng số thuế thu nhập cá nhân mà người nộp thuế phải nộp trong năm tính thuế, bao gồm:
a) Thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo kỳ tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân,
b) Thuế thu nhập cá nhân đã nộp hoặc đã khấu trừ đối với thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trứng thường, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà tặng, thu nhập khác.
4. Căn cứ để xác định mức độ thiệt hại được giảm thuế là tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trừ (-) đi các khoản bồi thường, bảo hiểm nhận được từ tổ chức bảo hiểm (nếu có) hoặc từ tổ chức, cá
nhân gây ra thiệt hại (nếu có). 5. Số thuế giảm được xác định như sau:
a) Trường hợp số thuế phải nộp trong năm lớn hơn mức độ thiệt hại thì số thuế giảm bằng mức độ thiệt hại;
Trường hợp số thuế phải nộp trong năm nhỏ hơn mức độ thiệt hại thì số thuế giảm bằng số thuế phải nộp.
6. Hồ sơ, thủ tục xét giảm thuế tại Điều này thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế."
- Tại Khoản 3, Điều 51 quy định quyết toán thuế:
13. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế."
Cần cứ các quy định nêu trên, trường hợp gia đình ông Trần Anh có chi phíkhám bệnh, chữa bệnh cho vợ khoảng 100 triệu đồng, không có bảo hiểm y tế, đề nghị
Người nộp thuế lưu ý:
- Khoản tiền nhận được từ người sử dụng lao động hỗ trợ cho việc khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động - theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 8 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP là khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân.
- Các khoản chi cho y tế (bệnh hiểm nghèo) theo Điều 40 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP thuộc trường hợp giảm thuế nên không được tính vào các khoản giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN.
- Điều kiện các khoản chỉ cho y tế được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế TNCN: Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp, bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh; hóa . đơn thể hiện đầy đủ thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế; các khoản chỉ này không được đồng thời thanh toán từ các nguồn được hỗ trợ khác mà không phải do người lao động trực tiếp chi trả.
- Trường hợp người lao động có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập đối : với các khoản chi phí giáo dục, y tế nêu trên khi tính thuế thì người nộp thuế không được ủy quyền quyết toán cho cơ quan chi trả, phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
Đề nghị người nộp thuế căn cứ các quy định nêu trên, đối chiếu với hồ sơ thực tế để xác định điều kiện áp dụng chính sách thuế.
Hải My