Ông N.V.K đặt câu hỏi: Cá nhân A là chủ sở hữu quyền sử dụng đất, ủy quyền cho cá nhân B toàn quyền định đoạt. Thực tế A và B có thỏa thuận chuyển nhượng nhưng bên A mới được giao đất, chưa được cấp giấy chứng nhận, nên thực hiện qua ủy quyền.
Sau đó bên B làm các thủ tục để bên A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, B nhân danh A ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho cá nhân C (là vợ của B).
Đề nghị cơ quan thuế giải đáp các thắc mắc:
1. Trường hợp này có được xác định là chuyển nhượng giữa A và B hay không?
2. Nếu có, A có phải kê khai và nộp thuế TNCN 2% không?
3. Cá nhân C có phải nộp thuế TNCN 10% đối với nhận tặng cho hay không?
4. Trường hợp nào phát sinh đồng thời nghĩa vụ thuế ở cả A và C?
Thuế cơ sở 9 tỉnh Ninh Bình giải đáp như sau:
1. Trường hợp này có được xác định là chuyển nhượng giữa A và B hay không?
Căn cứ Công văn số 1133/TCT-TNCN ngày 05 tháng 04 năm 2011 của Tổng cục Thuế (nay là Cục Thuế) về việc vướng mắc về thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản;
Căn cứ Công văn số 3373/TCT-TNCN ngày 20/9/2011 của Tổng cục Thuế về việc thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS thông qua hợp đồng ủy quyền;
Căn cứ mục 1 Công văn số 3438/TCT- PC ngày 05/8/2024 của Tổng cục Thuế về việc tính thuế tử hợp đồng ủy quyền CNQSDĐ:
“1. Về việc thu thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản:
Căn cứ Khoản 5 Điều 3 Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội (được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 1 Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 của Quốc hội); Căn cứ Điểm d Khoản 5 Điều Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 15/6/2013 của Chính phủ; Căn cứ Điểm Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính, trường hợp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức hợp đồng ủy quyền mà nội dụng của hợp đồng ủy quyền có quy định cho người nhận ủy quyền được các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo các quy định tại các Điều 158, 186, 189, 192, 237 Bộ luật Dân sự năm 2015 có phát sinh thu nhập từ việc ủy quyền quản lý bất động sản thì khoản thu nhập đó là khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản".
Căn cứ nội dung của các Công văn trên và việc thực hiện qua ủy quyền có đầy đủ tính pháp lý quy định tại Bộ Luật dân sự (vì nội dung đề nghị là một tình huống) thì trường hợp này được xác định là chuyển nhượng giữa A và B.
2. Nếu có, A có phải kê khai và nộp thuế TNCN 2% không?
Như trên đã xác định: Trường hợp này được xác định là chuyển nhượng giữa A và B. Do đó A phải kê khai và nộp thuế TNCN 2% theo quy định.
3. Cá nhân C có phải nộp thuế TNCN 10% đối với nhận tặng cho hay không?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội.
Điều 4. Thu nhập được miễn thuế
"4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chống; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau".
Như vậy cá nhân C không phải nộp thuế TNCN 10% đổi với nhận tặng cho khi có đầy đủ hồ sơ pháp lý theo quy định.
4. Trường hợp nào phát sinh đồng thời nghĩa vụ thuế ở cả A và C?
Theo nội dung tình huống của ông đưa ra và các nội dung đã nêu trên thì trường hợp này không phát sinh đồng thời nghĩa vụ thuế ở cả A và C.
Trường hợp C không phải là vợ của B thì A và C phát sinh đồng thời nghĩa vụ thuế.
Hải My